Truyện
Trước Sau

3. Nghề làm vải

Thời kỳ đầu của dân tộc, nhân dân lấy vỏ cây làm áo, dệt cỏ làm chiếu (sách Lĩnh Nam Chích Quái). Có lẽ khi đó các bộ tộc Việt đã bóc vỏ cây sui, đập ra cho mềm mà dùng để mặc và làm chăn. Vải chuối tiêu (tiêu cát) làm bằng sơi tước từ cây chuối tiêu có màu vàng, đẹp nhưng dễ rách.

Bình luận đoạn
Thời kỳ đầu của dân tộc, nhân dân lấy vỏ cây làm áo, dệt cỏ làm chiếu (sách Lĩnh Nam Chích Quái). Có lẽ khi đó các bộ tộc Việt đã bóc vỏ cây sui, đập ra cho mềm mà dùng để mặc và làm chăn. Vải chuối tiêu (tiêu cát) làm bằng sơi tước từ cây chuối tiêu có màu vàng, đẹp nhưng dễ rách.

Chưa có bình luận cho đoạn này.

Vải bông

Bình luận đoạn
Vải bông

Chưa có bình luận cho đoạn này.

Việt Nam có thể có bông từ công nguyên, trước nhiều nước khác trong khu vực.Quy trình: Gieo hạt bông, hái bông, cán bông, kéo sợi, hồ sợi, dàn sợi lên khung cửi, dệt thành tấm vảiCác loại vải: sồi, đũi, nái, lụa, the, vân, lĩnh, nhiễu, là, sa, đoạn, gấmCây sui: bóc vỏ cây, giã nện cho mỏng và mềm rồi căng thẳng ra như chăn bông, làm đồ mặc rất ấm2 loại vải này có lẽ từ trước bắc thuộc đã có, người Mường có vải tiêu cát

Bình luận đoạn
Việt Nam có thể có bông từ công nguyên, trước nhiều nước khác trong khu vực.Quy trình: Gieo hạt bông, hái bông, cán bông, kéo sợi, hồ sợi, dàn sợi lên khung cửi, dệt thành tấm vảiCác loại vải: sồi, đũi, nái, lụa, the, vân, lĩnh, nhiễu, là, sa, đoạn, gấmCây sui: bóc vỏ cây, giã nện cho mỏng và mềm rồi căng thẳng ra như chăn bông, làm đồ mặc rất ấm2 loại vải này có lẽ từ trước bắc thuộc đã có, người Mường có vải tiêu cát

Chưa có bình luận cho đoạn này.

Vải lụa

Bình luận đoạn
Vải lụa

Chưa có bình luận cho đoạn này.

Vải cát bá nhỏ có từ thế kỷ thứ 3, mềm mại và nhẵn nhụi, là một loại cống phẩm cho triều đình phương Bắc.Truyền thuyết bà tổ nghề làng dệt Vạn Phúc là cô gái từ thế kỷ thứ 9.Nghề dệt lụa phát triển mạnh dưới thời Lý, còn dùng như tiền tệ trong việc nộp thuế và trao đổi mua bán hàng hoá. Vải lụa nhiều đến mức có thể thay thế được lụa mua của nhà Tống, quan phục là lụa, gấm sản xuất trong nước.Thời Trần cải tiến cách pha chế và nhuộm ngũ sắc.Thời Hậu Lê có những trung tâm dệt nổi tiếng với đặc sản quý. Thời này, thợ của ta đã sản xuất được một số hàng sợi bông trông gần như dạ và nỉ hiện đại gọi là nuy đoạn hoặc thung thúc. Làng Bưởi có lĩnh hoa chanh là sản phẩm dệt tơ đen, dày dặn nhưng không thô, một mặt mờ, một mặt bóng, có điểm những chấm hoa mịn màng, kính đáo, kỹ thuật phức tạp. Nhuộm cũng phức tạp: nhuộm và giặt 35 lần trong 7 ngày, sau đó đem hồ để tăng sức bền của sợi rồi lấy chày ghè cho mềm. Người ta thường mua lĩnh mộc của vùng Bưởi gửi đi Sài Gòn hay Huế để nhồi tía rồi mới bán ra thị trường để mặc gọi là lĩnh tía.Câu chuyện mình khá thích:Giữa làng Bưởi với làng Kẻ Đơ, từ trong quá khứ xa xăm, đã có một mối quan hệ lý thú xung quanh nghề dệt. Kẻ Đơ còn có tên là làng Triều Khúc, ở gần ngã ba Thanh Xuân, trên đường Hà Nội đi Hà Đông, thuộc huyện Thanh Trì Hà Nội. Kẻ Đơ xưa là làng chuyên dệt quai thao để mắc vào những chiếc nón lá làm duyên cho các cô gái từ thôn quê đến kinh kỳ.Các cụ già ở đất Thăng Long còn truyền lại cho con cháu rằng xưa kia, dân Kẻ Bưởi chuyên dệt lĩnh. Khi quay tơ gặp những sợi tơ sần có mốt cục (nốt cục), không dùng dệt lĩnh được nhưng chẳng bao giờ vứt bỏ đi cả. Dân Kẻ Bưởi cất dành tơ mốt cục cho một người tri kỷ trong nghề tơ sợi, đó là dân Kẻ Đơ – Triều Khúc. Một cục của làng Bưởi chỉ có trao cho các cô nàng khéo tay ở Kẻ Đơ dệt quai thao thì mới xứng.

Bình luận đoạn
Vải cát bá nhỏ có từ thế kỷ thứ 3, mềm mại và nhẵn nhụi, là một loại cống phẩm cho triều đình phương Bắc.Truyền thuyết bà tổ nghề làng dệt Vạn Phúc là cô gái từ thế kỷ thứ 9.Nghề dệt lụa phát triển mạnh dưới thời Lý, còn dùng như tiền tệ trong việc nộp thuế và trao đổi mua bán hàng hoá. Vải lụa nhiều đến mức có thể thay thế được lụa mua của nhà Tống, quan phục là lụa, gấm sản xuất trong nước.Thời Trần cải tiến cách pha chế và nhuộm ngũ sắc.Thời Hậu Lê có những trung tâm dệt nổi tiếng với đặc sản quý. Thời này, thợ của ta đã sản xuất được một số hàng sợi bông trông gần như dạ và nỉ hiện đại gọi là nuy đoạn hoặc thung thúc. Làng Bưởi có lĩnh hoa chanh là sản phẩm dệt tơ đen, dày dặn nhưng không thô, một mặt mờ, một mặt bóng, có điểm những chấm hoa mịn màng, kính đáo, kỹ thuật phức tạp. Nhuộm cũng phức tạp: nhuộm và giặt 35 lần trong 7 ngày, sau đó đem hồ để tăng sức bền của sợi rồi lấy chày ghè cho mềm. Người ta thường mua lĩnh mộc của vùng Bưởi gửi đi Sài Gòn hay Huế để nhồi tía rồi mới bán ra thị trường để mặc gọi là lĩnh tía.Câu chuyện mình khá thích:Giữa làng Bưởi với làng Kẻ Đơ, từ trong quá khứ xa xăm, đã có một mối quan hệ lý thú xung quanh nghề dệt. Kẻ Đơ còn có tên là làng Triều Khúc, ở gần ngã ba Thanh Xuân, trên đường Hà Nội đi Hà Đông, thuộc huyện Thanh Trì Hà Nội. Kẻ Đơ xưa là làng chuyên dệt quai thao để mắc vào những chiếc nón lá làm duyên cho các cô gái từ thôn quê đến kinh kỳ.Các cụ già ở đất Thăng Long còn truyền lại cho con cháu rằng xưa kia, dân Kẻ Bưởi chuyên dệt lĩnh. Khi quay tơ gặp những sợi tơ sần có mốt cục (nốt cục), không dùng dệt lĩnh được nhưng chẳng bao giờ vứt bỏ đi cả. Dân Kẻ Bưởi cất dành tơ mốt cục cho một người tri kỷ trong nghề tơ sợi, đó là dân Kẻ Đơ – Triều Khúc. Một cục của làng Bưởi chỉ có trao cho các cô nàng khéo tay ở Kẻ Đơ dệt quai thao thì mới xứng.

Chưa có bình luận cho đoạn này.

Tổ nghề sớm nhất của nghề dệt được nhắc đến trong truyền thuyết là công chúa Thiệu Hoa con vua Hùng Vương. Làng Bùng ở Hà Tây cũ thờ ông tổ nghề dệt lượt là Phùng Khắc Khoan.

Bình luận đoạn
Tổ nghề sớm nhất của nghề dệt được nhắc đến trong truyền thuyết là công chúa Thiệu Hoa con vua Hùng Vương. Làng Bùng ở Hà Tây cũ thờ ông tổ nghề dệt lượt là Phùng Khắc Khoan.

Chưa có bình luận cho đoạn này.

Chương trước Chương sau
💬

Bình luận (0)

Chưa có bình luận nào. Hãy là người đầu tiên!